Tình yêu quê hương được thể hiện qua bài thơ Quê hương của Tế Hanh

Tình yêu quê hương được thể hiện qua bài thơ Quê hương của Tế Hanh.

Quê hương là nguồn cảm hứng dồi dào trong suốt cuộc đời thơ của Tể Hanh, bài thơ “Quê Hương” là mở đầu cho nguồn cảm hứng tươi sáng ấy. Tế Hanh là một cây bút đặc sắc trong phong trào thơ mới, ở thơ ông ta cảm nhận được trong sáng, khỏe khoắn, trong trẻo lại không kém phần nồng đượm, có một âm hưởng đằm thắm rất riêng. Bài thơ “Quê Hương” là dòng hồi tưởng về niềm thương nhớ thiết tha của tác giả đối với quê hương mình.

Trước hết, ta dễ dàng nhận ra ở Tế Hanh một bản chất gắn bó với đất cần lao:

Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới

Nước bao vây, cách biển nửa ngày sông.

Hai chữ “làng tôi” cất lên đầy thương nhớ và tự hàp. Làng chài của tác giả “cách biển nữa ngày sông” với sồng nước “bao vây”, chữ “vốn” nói lên nghề chài lưới ở đây có từ lâu đời. Không yêu quê hương, không kiêu hãnh về quê hương thì làm sao có dược những lời giản dị mà dứt khoát đến như vậy.

Cuộc sống của người dân làng chài bắt đầu.từ buổi sáng còn rất sớm. Bầu trời trong, gió nhẹ, ánh maị hồng vừa bừng lên, đoàn thuyền ra đi trong bầu không khí khẩn trương đầy nhiệt huyết.

Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang.

Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng

Rướn thân trắng bao la thâu góp gió.

Niềm vui chinh phục thiên nhiên và khí thế ra khơi được thể hiện qua hình ảnh con thuyền, cánh buồm, mái chèo đầy ấn tượng. Con thuyền được ví như con tuấn mã. Cánh buồm so sánh với mảnh hồn làng là cách so sánh đầy mới mẻ nhằm nói lên khí thế lao động và khát vọng về cuộc sống ấm no hạnh phúc. Với người dân chài, nhưng con thuyền ra khơi với tấm buồm có ý nghĩa lớn lao, tượng trưng cho sức đi, sức lao động của con người. Nhìn cánh buồm liên tưởng đến mảnh hồn làng, sự liên tưởng tự nhiên mà hấp dẫn. Các từ ngữ “hăng”, “phăng”, “vượt”, “rướn”, “thâu góp” làm nổi bật lên sức mạnh, niềm tin tưởng và tự hào về khí thế ra khơi. “Rướn” là vươn lên cao với tất cả sức mạnh để “thâu góp gió” cửa biển khơi, đó là cách nhìn dưới đôi mắt của người họa sĩ. Hình ảnh vừa chân thật, vừa mang chất lãng mạn thể hiện hoài bão, khao khát chinh phục thiên nhiên của chàng trai làng chài.

Người con xa quê làm sao quên được hình ảnh gần gũi thân thương của người dân làng chài đón đoàn thuyền đánh cá trở về từ biển khơi. Khi ra đi thì khẩn trương, khi trở về thì làm cho bến bãi càng thêm tấp nập, ồn ã.

Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ

Khắp dân làng tấp nập đón ghe về

Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe,

Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.

Đ.ỜĨ sống nơi làng chài hiện lên với hình ảnh chân thực và sinh động. Tiếng “ồn ào”, cảnh “tấp nập” diễn tả niềm vui “đón ghe về”. Thành quả lao động là những con cá “tươi ngon thân bạc trắng” trìu nặng “đầy ghe”. Người dân tạ ơn trời đất đã cho biển lặng sóng yên và “cá đầy ghe”, Tế Hanh đã thấu tình quê hương khi thốt lên như vậy. Trên nền chung của cảnh hăng say lao động nổi bật hình -ảnh khỏe mạnh đầy sức sống của người vùng biển

Dân chài lưới làn da ngâm rám nắng

Cả thân hình nồng thở vị xa xăm.

Yêu quê hương là yêu mến, tự hào về những chàng trai cường tráng có “làn da ngăm, rám nắng”. Làn da được tôi luyện từ trong lao động trở nên rắn rỏi, khỏe mạnh. Yêu làng chài là yêu cánh buồm xa khơi, yêu con thuyền trên bến đỗ sau chuyến ra khơi vất vả.

Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm,

Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ..

Cách tạo dựng hình ảnh bằng cảm xúc bắt nguồn từ khứu giác, thính giác và nghệ thuật nhân hóa đã đem lại cho bài thơ hình ảnh mới lạ. Tâm hồn nhạy cảm giàu ân tình gắn bó với quê hương mang đậm ý vị đằm thắm của Tế Hanh thấm đầy trang viết. Từ thân thể người dân làng chài ướp nắng biển khơi rắn rỏi “nồng thở vị xa xăm” cho đến con thuyền nằm yên trên bến mỏi đều thể hiện tình nghĩa đậm đà của nhà thơ dành cho quê hương.

Nhờ quê hương, Tế Hanh nhớ màu xanh của nước biếc, màu bạc của-eon cá tươi ngon, màu “vôi” của cánh buồm bạc mà sương nắng:

Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ

Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi,

Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi,

Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!.

Trung tâm của nỗi nhớ là hình ảnh lao động của người dân’ làng chài “rẽ sóng ra khơi” và hương vị đặc biệt của quê nhà “mùi nồng mặn”.

Kết thúc bài thơ, Tế Hanh trở về với cái “mùi nồng mặn” rất chân thực. Cái mùi nồng mặn ấy đã theo suốt cả cuộc đời nhà thơ, nhắc mãi ông nhớ về quê nhà dù đang ở bất cứ nơi đâu. Đó là cái thực rất tinh túy đã được nhân lên trong tâm tình. Đọc thơ Quê hương ta cảm nhận tâm hồn cao đẹp, hồn hậu của nhà thơ dành cho quê mình bằng tất cả tấm lòng. Đó không phải là điều gì cao siêu mà là những thứ gần gũi thân thiết: màu sắc, hương vị, bầu trời, con thuyền, bến đỗ, con cá… nhưng thấm đẫm tình thương.