Soạn bài Tập làm thơ bốn chữ – ngữ văn lớp 6

Soạn bài Tập làm thơ bốn chữ – ngữ văn lớp 6

CHUẨN BỊ Ở NHÀ

Bài tập 1: Ngoài bài thơ Lượm, có thể kế thêm các bài thơ, đoạn thơ sau:

– Bài Mười quả trứng tròn của Phạm Hổ (trích một đoạn):

Mười quả trứng tròn

Mẹ gà ấp ủ

Mười chú gà con

Hôm nay ra đủ

Lòng trắng lòng đỏ

Thành mỏ thành chăn

Cái mỏ tí hon

Cái chân bé xíu

Lông vàng mát dịu

Mắt đen sáng ngời

ơi chú gà ơi

Ta yêu chú lắm!

Trong 3 khổ thơ trên có cả vần chân, vần lưng, vần liền và vần cách. Em chỉ ra và gạch dưới các chữ có vần đó.

  • Câu đố Tàu thủy:

Không chân mà chạy

Không cách mà bay

Không vây mà lội

Trong bụng nước sủi

Ngoài mũi mây bay

Ăn cơm phương này

Đi chơi phượng khác.

Trong câu đô này có cả vần chân và vần lưng. Hãy chỉ ra các chữ có vần đó. Vần chân ở đây là vần liền hay vần cách?

Bài tập 2: Vần chân là vần được gieo vào cuối dòng thơ, vần lưng là vần được gieo ở giữa dòng thơ. vần chân và vần lưng trong đoạn thơ :

Mây lưng chừng hàng

Về ngang lưng núi

Ngàn cây trang nghiêm

Mơ màng theo bụi.

là:

  • Vần chân: hàng – trang; núi – bụi.
  • Vần lưng: hàng, ngang, trang, màng.

Bài tập 3: Vần liền là vần được gieo liên tiếp ở các dòng thơ. Trong hai đoạn thơ trong SGK thì vần liền và vần cách được gieo là:

  • Vần cách: cháu – sáu.
  • Vần liền: hẹ – mẹ; đàn – càn.

Bài tập 4: Khố 1 và khổ 2 của đoạn thơ đều gieo vần cách (vần chân) ở dòng thứ hai và dòng thứ tư. Từ đó, em có thể tìm ra các chữ sai và thay bằng chữ phù hợp.

TẬP LÀM THƠ BỐN CHỮ

Các em cần tập làm trước ở nhà đế đến lớp đọc cho cả lớp nghe và chỉ ra nội dung, đặc điểm (vần, nhịp) của đoạn thơ.

Làm thơ bôn chữ không khó, em nào cũng có thể làm được những bài thơ ngắn hoặc một đoạn thơ có 4 dòng. Khi nhà thơ Trần Đăng Khoa 11 tuổi đã viết Hạt gạo làng ta nổi tiếng, có đoạn đầu:

Hạt gạo làng ta

Có vị phù sa

Của sông Kinh Thầy

Có hương sen thơm

Trong hồ nước đầy

Có lời mẹ hát

Ngọt bùi hôm nay.

Ngay trong đoạn này đã có cả vần liền và vần cách của thơ bốn chữ.