Soạn bài Lao Xao – ngữ văn lớp 6

Soạn bài Lao Xao – ngữ văn lớp 6

KIẾN THỨC CẦN NẮM VỮNG

Bài văn miêu tả các loài chim rất sinh động, tự nhiên và hấp dẫn. Tác giả chỉ nêu những nét nổi bật về màu sắc, hình dáng, hoặc đặc điểm tập tính của chúng.

Qua sự miêu tả các loài chim trong bài văn, tác giả đã thể hiện vòn hiểu biết phong phú, tỉ mỉ về các loài chim và thể hiện tình cảm gắn bó với thiên nhiên làng quê.

Tác giả kết hợp tả và kể, miêu tả ngoại hình qua hành dộng, làm cho câu văn thêm sinh động.

Các loài chim được miêu tả một cách tự nhiên, tác giả chọn mỗi loài vật một vài nét nổi bật, đáng chú ý về tiếng kêu hoặc về màu sắc, hình dáng, hoặc về đặc điểm, tập tính của chúng.

RÈN KĨ NĂNG ĐỌC – HIEU VĂN BẢN (trả lời câu hỏi SGK)

1./ Bài văn tả và kể về các loài chim ở làng quê theo một trình tự nào…?

Bài văn tả và kể về các loài chim ở làng quê theo một trình tự chặt chẽ và hợp lí.

Đoạn văn mở đầu gợi tả khung cảnh làng quê vào đầu mùa hè với màu sắc, hương thơm của các loài hoa cùng với vẻ rộn ràng, xôn xao của loài chim. Từ tiếng kêu của con bồ các bay ngang qua sân, tác giả dẫn đến đoạn tả và kể về các loài chim một cách tự nhiên.

* Trình tự tên các loài chim được tả và kể trong bài văn: Bồ các, chim ri, sáo sậu, sáo đen, tu hú, chìm ngói, nhạn, bìm bịp, diều hâu, chèo bẻo, quạ đen, quạ khoang, chim cắt.

 

  • Các loài chim được tả theo nhóm có quan hệ gần gũi hoặc cùng họ với nhau:
  • Một nhóm là các con chim lành thường mang niềm vui đến cho con người như bồ các, sáo, tu hú, chim ri, chim ngói, bìm bịp.
  • Một nhóm là các con chim dữ như diều hâu, quạ, cắt.

Trong các nhóm này, chèo bẻo là loài chim dám đánh loài chim dữ.

  • Cách dẫn dắt lời kể và tả:

Đoạn tả loài chim dữ không tả riêng từng con mà tả chung một cuộc giao tranh làm hiện lên hình ảnh và đặc điểm của mỗi loài một cách cụ thể, sinh động. Mạch kể giữa loài chim hiền và các loại chim ác được nối tiếp bằng sự xuất hiện các loại chim ngói, bìm bịp…

2./ về nghệ thuật miêu tả các loài chim

  • Các loài chim được miêu tả một cách tự nhiên. Mỗi loài vật có một nét nổi bật về tiếng kêu, màu sắc, hình dáng, hoặc về đặc điểm, tập tính riêng không thể lẫn lộn với các loài chim khác. Chẳng hạn, bồ các thì kêu “các … các”, sáo thì hót, học nói, được người nuôi, nên gần người. Các loài chim ác như diều hâu, quạ, cắt thì miêu tả qua hoạt động bắt gà con, bị chèo bẻo đuổi đánh …
  • Kết hợp tả và kể (chuyện con sáo nhà bác Vui học nói tọ tọe, chuyện về sự tích con bìm bịp), miêu tả ngoại hình qua hành động (diều hâu, chèo béo, quạ, cắt) làm cho câu văn thêm sinh động.
  • Các loài chim được đặt trong môi trường hoạt động vừa được miêu tả riêng từng loài, tả xen kẽ trong mối quan hệ giữa các loài chim.
  • Bồ các vừa bay vừa kêu như bị ai đuổi đánh, nhạn vùng vẫy tít mây xanh, tu hú đỗ ngọn cây mà kêu, bìm bịp suốt ngày đêm rúc trong bụi cây.
  • Tả riêng từng loài: chim ri, sáo sậu, sáo đen
  • Tả xen kẽ trong mối quan hệ giữa các loài chim: Chim ri là dì sáo sậu, sáo sậu là cậu sáo đen. Cùng họ với diều hâu là quạ đen, quạ khoang…

3./ Bài văn thấm đượm chất văn hóa dân gian

  • Câu hát đồng dao: Bồ các là bác chùn ri… là chú bồ các.
  • Dùng thành ngữ: Kẻ cắp bà già gặp nhau; Lia thìa lau láu như quạ vào chuồng lợn; Dây mơ rễ má.
  • Truyện cổ tích Sự tích con chim bìm bịp.

HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

Quan sát và miêu tả một loài chim quen thuộc ở quê em.

Ai đã một lần đến quê em hẳn không thể không biết đến loài chim chào mào. Đó là loài chim sống theo từng đôi nhưng rất đông. Chúng không ăn lương thực như thóc, gạo mà ăn quả đa, quả thị. Hằng năm cứ mỗi độ xuân về, khi cây gạo nỡ hoa đỏ rực thì chim bay về, suốt ngày tìm ăn mật ở đài hoa. Vào mùa hè, chúng làm tổ trên cây rất kín đáo. Gọi là chào mào vì trên đầu nó có cái mào bằng lông màu nâu. Thân hình nó thon thả, có lông đuôi rất dài và dưới đuôi có một đám lông màu đỏ. Vì vậy, người ta gọi “chào mào đỏ đuôi”.

Sự xuất hiện của các loài chim làm cho cuộc sống ở quê em sinh động thêm. Đó là một nét sinh động trong thiên nhiên quê em.