Phân tích nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao

Phân tích nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao để làm nối bật bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo – Cùng với các tác phẩm hiện thực viết về người nông dân bị áp bức bóc lột như Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan, Tắt đèn của Ngô Tất Tố thì Chí Phèo của Nam Cao cũng là một truyện ngắn rất đặc sắc. Viết tác phẩm này, nhà văn đã “khơi được những nguồn chưa ai khơi và đang tạo những gì chưa có ” ở một đề tài quen thuộc. Ông đã phát hiện ra những nỗi đau khổ không gì so sánh được của người nông dân trong xã hội cũ là: vì bị áp bức, bóc lột vì nghèo đói và bế tắc, cùng đường, người nông dân có thể bị hủy hoại từ phần hồn đến phần xác, từ nhân tính đến nhân hình.

Phân tích tính cách của Chí Phèo, nhân vật chính của tác phẩm cùng tên, không những chúng ta thấy rõ những điều vừa nói mà còn bắt gặp một cái nhìn mới mẻ, độc đáo có chiều sâu đầy tính nhân đạo của nhà văn về người nông dân trước cách mạng.

Nói đến Chí Phèo là nói đến một thằng “cùng hơn cả dân cùng” điển hình cho những nỗi khốn khổ, tủi nhục nhất của người nông dân trong xã hội thực dân phong kiến. Chí vốn là một đứa con hoang may nhờ chút tình thương của xã hội mới có thể tồn tại mà trưởng thành. Mới đẻ ra, Chí đã bị vứt đi bên một cái lò gạch cũ bỏ không và sau đó đã trở thành một món hàng mua bán. Từ thuở nhỏ “bơ vơ hết đi ở cho nhà này lại đi ở cho nhà nọ ” đến năm hai mươi tuổi, Chí là một anh thanh niên khỏe mạnh làm canh điền cho Bá Kiến. Chí khi ấy cũng “ao ước có như gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc mướn, cày thuê, vợ dệt vải, chung lại bỏ một con lợn để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm ” nghĩa là chỉ mơ ước một cuộc sống hạnh phúc nhỏ nhoi, bình dị bằng chính sức lao động của mình. Lúc này, tuy còn trẻ trung nhưng hắn cũng có lòng tự trọng. Khi bị bà Ba “quỷ quái ” nhà cụ Bá gọi lên bóp chân, hắn “chỉ thấy nhục chứ yêu đương gì”. Đúng là hắn biết phân biệt được tình yêu chân chính và thói dâm dục xấu xa. Nhưng rồi bản chất lương thiện trong sáng này của hắn đã bị xã hội đương thời ra sức huỷ diệt.

Bỗng nhiên, chỉ vì ghen tuông vu vơ. Bá Kiến cho giải Chí lên huyện đi ở tù. Sau bảy tám năm biệt tích, một hôm Chí trở về làng Vũ Đại. Lúc này Chí hoàn toàn thay đổi. Từ tính cách, cử chỉ, hành động đến ngoại hình của hắn “trông đặc như một thằng sàng đá”. “Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết”. Nhà tù đã cướp đi bộ mặt lương thiện của Chí và biến hắn trở thành một thằng lưu manh đầy tội lỗi. Hãy trông lại ngoại hình của hắn “Hắn mặc quần nái đen, áo tây vàng, ngực áo phanh ra để lộ những hình chạm trổ rồng phượng”. Đúng là chân dung một kẻ côn đồ “anh chị” bất chấp mọi thứ, sẩn sàng gây gổ, đâm chém. Từ đó, Chí đi từ những hành động lưu manh vô ý thức chỉ nhằm đáp ứng những cơn thèm rượu và thói ngố ngáo ngang ngược đến chỗ trở thành “đầy tớ tay chân” của Bá Kiến. Chí rất dễ bị bọn thông trị xảo quyệt mua chuộc và lợi dụng. Thật vậy, chỉ cần mây câu nói ngọt xớt, một chuỗi cười Tào Tháo và năm hào chỉ một bữa ăn… Bá Kiến đã thu phục được kẻ thù thành công cụ mù quáng trong tay mình. Công việc của Chí là dập đầu, rạch mặt, đe dọa, ăn vạ, tông tiền. Bọn cường hào lợi dụng hắn để thanh trừng lẫn nhau. Có lần được Bá Kiến sai đi đòi nợ Đội Tảo, xong việc, hắn vênh váo: “Anh hùng làng này có thằng nào bằng ta. Cả cuộc đời hắn từ đó chìm đắm trong một cơn say và hắn đâu biết rằng trong cơn say (hắn) đã phá tan bao nhiêu gia đình, đập vỡ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước mắt của bao nhiêu người lương thiện”.

Bởi vậy, trong con mắt của mọi người làng Vũ Đại, Chí Phèo đúng là “một con quỷ dữ”. “Tất cả dân làng đều sợ hắn và tránh mặt hắn mỗi lần hắn đi qua”. Khi Chí Phèo ngất ngưởng trên đường say, hắn chửi bới, la làng, mọi người đều “mặc thây cha nó ” “không ai cần động dạng”. Và Chí Phèo vẫn chỉ có một mình “chửi rồi lại nghe”, không ai thèm lên tiếng. “Đáp lại hắn, chỉ có lũ chó cắn xao lên trong xóm”. Như vậy, đúng là Chí đã mất hết cả nhân hình lẫn nhân tính, bị khai trừ ra khỏi xã hội loài người.

Vạch ra một cách lô gích quá trình lưu manh hóa của Chí Phèo, Nam Cao đã mạnh mẽ tố cáo tội ác của bọn thực dân phong kiến đã xô đẩy người nông dân vào bế tắc, không lối thoát.

Nhưng giá trị nổi bật nhát của tác phẩm này là ở chỗ: “khi miêu tả người nông dân bị lưu manh hóa, Nam Cao không hề bôi nhọ nông dân mà trái lại đã đi sâu vào nội tâm nhân vật để phát hiện và khẳng định nhân phẩm của họ, ngay trong khi họ bị xã hội cướp mất tất cả nhân hình, nhân tính” (Từ điển Văn học tập I). Nhà văn đã rọi sáng của tình thương yêu vào tận đáy tâm hồn đen tối của “con quỷ dữ làng Vũ Đại”. Trong một đêm kia, hắn gặp Thị Nở. Những phẩm chất của người nông dân lao động tiềm tàng sâu trong con người hắn bất chợt được khơi dậy. Không ngờ, sau cái đêm “trăng rắc bụi trên sông và sông gợn biết bao nhiêu vàng” ấy, nếu Chí Phèo cứ “vơ vẩn nghĩ mãi” thì Thị Nở, cô gái ma chê quỷ hờn kia, cũng chẳng yên lòng. Trở về nhà, thị định ngủ nhưng không thây buồn ngủ, nên thị cứ “lăn ra lăn vào”. Tình thương yêu mộc mạc cộng với sự chăm sóc giản dị của thị đã đánh thức lương tri trong Chí. Suốt năm ngày đêm cả hai đều chìm đắm trong men say của tình yêu. Tỉnh ra, Chí chợt bâng khuâng. Sau bao năm, lần đầu tiên Chí phát hiện ra những âm thanh rộn ràng của cuộc sống xung quanh: từ tiếng chim hót vui vẻ, tiếng cười nói lao xao của mấy người đàn bà đi chợ bán vải về, đến tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá. Những âm thanh ấy chính là tiếng gọi nao nức thiết tha của cuộc sống vang lên rộn ràng trong tâm hồn vừa được khơi dậy của Chí. Cái ước mơ bình dị ngày nào “chồng cuốc mướn, cày thuê, vợ dệt vải…” bỗng dưng trở lại với Chí. Dưới ánh sáng của tình yêu, Thị Nở bỗng trở thành người đàn bà có duyên, cũng biết “lườm yêu” biết e lệ, thẹn thùng, biết “ngưởng ngượng mà thinh thích” khi nghe hai tiếng “vợ chồng”. Cũng là lần đầu tiên Chí thảng thốt nhận ra “mình đã ở bên kia dốc cuộc đời” hướng về tuổi già sắp tới, hắn run sợ trước cảnh huống “ốm đau, rét mướt, cô độc” đặc biệt là sự cô độc thật là đáng sợ.

Cũng may mà Thị Nở đã mang bát cháo hành tới, nếu không chắc là hắn đã khóc. Giây phút ấy “hắn thấy lòng thành trẻ con. Hắn muốn làm nũng với thị như với mẹ. Ôi! Sao mà hắn hiền…” Tình yêu của Thị Nở, phút này đã mở đường cho Chí Phèo trở lại làm người: “Trời ơi! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao… Thị có thể sống yên Ổn với hắn thì sao người khác lại không thể được”. Và hắn nói. “Giá cứ thế này mãi thì thích nhỉ”. Rõ ràng là phút này nội tâm của Chí đã bừng tỉnh, lương tri của hắn đã trỗi dậy đã thôi thúc tình cảm hắn. Hắn thật sự muốn “thế này” nghĩa là muốn sống như một con người đúng nghĩa.

Chí Phèo hi vọng Thị Nở sẽ là cái cầu nối được hắn trở về với cuộc dời. “Nhưng hỡi ôi! Con đường trở lại làm người của Chí Phèo vừa được hé mở ra thì đã bị đóng sầm lại!” Bà cô của Thị Nở đã đứng ra để ngăn chặn. Cũng như mọi người dân làng Vũ Đại khác bà đã quen coi Chí là một thằng lưu manh, hơn thế nữa là một con quỷ dữ. Rồi cả Thị Nở, người đàn bà hắn đặt trọn lòng hi vọng đó nghe lời bà cô cũng “dướn cái môi vĩ đại mà ném vào hắn bao lời chửi mắng. Như thế, Chí Phèo thật sự rơi vào một bi kịch tinh thần đau đớn. Hắn đã bị xã hội cự tuyệt quyền làm người. Chí Phèo lại uống rượu trong nỗi tuyệt vọng tột cùng. Khốn khổ chưa! Hơi rượu không sặc sụa. Hắn chỉ thoang thoáng thấy hơi cháo hành”. Càng thấm thìa thêm nỗi đau vô hạn của thân phận mình “hắn ôm chặt khóc rưng rức”…

Đau đớn, xót xa, bế tắc Chí Phèo xách dao miệng dọa: “đi giết cả nhà con đì Nở” nhưng bước chân lại đưa Chí tới nhà Bá Kiến đâm chết lão rồi tự sát. Chí đã chết ngay trên ngưỡng cửa cuộc đời khi cánh cửa cuộc đời đóng chặt trước anh, không cho anh trở lại. Không chấp nhận được cuộc sống thú vật trước đó và thấm thìa tội ác của kẻ cướp đi quyền làm người của mình, Chí xách dao đến nhà nó dõng dạc đòi quyền làm người rồi giết chết kẻ thù và kết liễu cuộc đời mình. Câu hỏi cuối cùng của Chí: Ai cho tao làm người lương thiện? Làm thế nào cho mất được những vết mảnh chai trên mặt này? là một câu hỏi đầy phẫn uất, đau đớn, day dứt mãi lòng người đọc bao thế hệ !

Chí Phèo đúng là một hiện thân đầy đủ nhất của những nỗi khốn khổ, tủi nhục của những người nông dân trong xã hội thực dân phong kiến đương thời? bị chà đạp, bị cào xé, bị hủy hoại từ nhân tính đến nhân hình. Bằng nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn xây dựng tính cách nhân vật sinh động và sắc sảo, Nam Cao đã đặt ra và giải quyết tấn bi kịch của người nông dân thời ấy: Bị cự tuyệt quyền làm người. Từ cuộc đời của nhân vật này, nhà văn đã tái hiện sinh động cụ thể và sắc sảo những hiện thực của xã hội đương thời đưa ra lời tố cáo mạnh mẽ sự tàn nhẫn vô nhân của xã hội ấy. Qua nhân vật điển hình xuất sắc Chí Phèo, nhà văn đã lên tiếng bảo vệ cho quyền làm người. Như thế, Nam Cao chẳng những là một nhà văn hiện thực xuất sắc mà là nhà văn có tinh thần nhân đạo cao cả.

BÀI LÀM 2

Cùng với Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Công Trứ… trong giai đoạn văn học trung đại, Hồ Chí Minh, Tố Hữu… trong giai đoạn văn học hiện đại, Nam Cao là gương mặt quen thuộc, điển hình trên văn đàn Việt Nam giai đoạn 1930 -1945. Phong cách của Nam Cao không thể lẫn vào đâu được: bình dị, chân thực nhưng thấm đượm tình nhân đạo, nhân văn sâu sắc. Một trong những mảng đề tài chủ yếu ữong truyện ngắn của Nam Cao là sự tha hóa của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám 1945. Trong số các truyện ngắn đó, phải kể đến Chí Phèo – tấn bi kịch chung cho những người nông dân nghèo bị tha hóa. Đặc biệt trong phần cuối của câu chuyện, bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo càng đau đớn xót xa hơn.

Mở đầu trang viết, hình ảnh một Chí Phèo bất hạnh, đơn độc đập vào mắt người đọc “trần truồng” và “xám ngắt” “ữong một cái váy” để bên cạnh lò gạch cũ. Chí không hề biết bi kịch cuộc đời mình bắt đầu từ đâu, không cha, không mẹ, không chốn nương thân rồi sau đó trải qua bao năm cay đắng vất vả. Chí trở thành một chàng thanh niên theo đúng nghĩa. Nhưng ngờ đâu, chính vì là thanh niên nên Chí phải đi tù bởi cái xã hội quái gở. Sau 7, 8 năm biệt tích, Chí trở về làng Vũ Đại với một con người hoàn toàn khác: một con quỉ dữ của làng Vũ Đại. Vậy là cái xã hội thực dân nửa phong kiến đó là cha mẹ đẻ ra Chí Phèo, đẻ ra nhân cách tha hóa Chí Phèo. Và sau cái đêm yêu Thị Nở, Chí Phèo đã cay đắng nhận ra bi kịch cuộc đời mình. Cuộc gặp gỡ với Thị Nở đã lóe sáng như một tia chớp trong chuỗi ngày tăm tối đằng đấng của Chí Phèo. Bằng sự chăm sóc ân cần chu đáo và tình yêu thương mộc mạc giản dị, đã khơi dậy bản chất lương thiện đã bị đánh mất ữong con người của Chí.

Lần đầu tiên sau nhiều năm, Chí nhận ra những âm thanh quen thuộc của cuộc sống hàng ngày: tiếng chim hót vui vẻ, tiếng người đi chợ cười nói, tiếng anh thuyền chèo gõ mái chèo đuổi cá… Những âm thanh quá đỗi quen thuộc và gần gũi với con người lại hết sức lạ với Chí. Nhưng dù thế nào đi nữa Chí Phèo cũng là người lao động cùng khổ với bản tính chân chất, thật thà nên với những động tác giản đơn của cuộc sông thường nhật như vậy, linh hồn quỷ dữ trong con người Chí biến mất mà thay vào đó là vẻ mặt và nụ cười thật hiền. Hắn nhớ lại những ngày xa xưa, những ngày mà hắn đã từng mơ ước có được “một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vỢ dệt vải”. Càng hồi tưởng càng buồn, buồn đến não ruột. Nếu Thị Nở không mang bát cháo sang thì có lẽ “nó khóc mất”. Có lẽ đây là lần đầu tiên Chí được nếm mùi cháo hành thơm ngon và cũng là lần đầu tiên Chí được chăm sóc bởi bàn tay người đàn bà. Bát cháo nóng mới ngon làm sao. Trước đây, muốn được ăn thì phải dọa, phải cướp, phải rạch mặt ăn vạ… Càng nghĩ Chí càng thấy cay đắng. Nhưng giờ đây, vị thơm của hành và tình người tha thiết, nhân hậu đã hoàn toàn dành cho Chí. Chí cảm động biết bao. Đây là hương vị của cháo hành hay là vị ngọt của một tình yêu chân thành mà Chí hằng mơ ước? Hạnh phúc thật giản dị mà thấm thìa nhường nào. Lần đầu tiên “mắt Chí ươn ướt” và cười thật hiền. Chính lúc này đây. Chí Phèo đã tỉnh, tỉnh sau bao cơn say và đã thực sự là một con người. Anh “thèm lương thiện và muốn làm hòa với mọi người biết bao” . Dường như Chí đã thực sự hoảng sợ cho quá khứ của mình khi mà Chí biết đã hoàn toàn bị xã hội dứt khoát cự tuyệt, không nhìn nhận là một con người. Quay về với thực tại, với một vẻ mặt rất phong tình, hắn bảo Thị Nở “hay là mình sang đây ở với tớ một nhà cho vui”. Thật tội nghiệp! Qua câu nói đó đủ thây cái khát khao muốn được làm người bình thường của Chí. Có nghe hắn chửi, có nhìn hắn rạch mặt ăn vạ, có mục kích được cái cảnh hắn vác dao đâm thuê cho người khác… thì chúng ta mới xúc động thực sự trước cái khát khao hết sức bình dị ấy. Lòng yêu thương, cái tình người cảm động đã thức dậy trong con người của Chí. Phần sâu kín nhất của tâm hồn và cái bản chất đẹp đẽ nhất của người nông dân đã bị vùi dập bấy lâu nay lại bừng sáng.

Tình yêu đã thức tỉnh được con người mà trước nay xã hội chối bỏ. Tình yêu đã nhẹ nhàng hé mở cho anh con đường trở lại làm người. Anh lo sợ, hồi hộp… Đây chính là cái nhìn sâu sắc với tấm lòng xót thương đầy tình người của Nam Cao đối với những con người nghèo khổ, lương thiện bị xã hội xô đẩy vào con đường lưu manh tội lỗi. Nhưng khốn nạn thay cho những kẻ khó, hạnh phúc chưa được bao lâu thì Chí bị Thị Nở phụ bạc. Tuy nhiên người đàn bà tội nghiệp kia đâu có tội gì mà chỉ vì hoàn cảnh của Thị. Thị nghĩ bụng “hãy dừng yêu để hỏi cô Thị đã”. Vậy là, cánh cửa duy nhất đi vào thế giới lương thiện chỉ vừa hé mở đã bị đóng sầm lại. Bà cô Thị Nở mặc sức đay nghiến, chửi bới đôi trai gái khốn khổ. Bà thấy nhục nhã và “gào lên như một con ma dại”. Bà cô Thị Nở đã đang tâm dập tắt ngọn lửa tình yêu vừa chớm sáng giữa Chí Phèo – Thị Nở một cách cay nghiệt. Mà xét cho cùng thì cũng đúng thôi, đã từ lâu rồi, cả cái làng Vũ Đại này có ai xem Chí là người đâu. Chí chỉ là một thằng chuyên “rạch mặt ăn vạ” thì làm sao bà cô Thị Nở cho phép cháu mình lấy Chí. Chí thật sự rơi vào một bi kịch tinh thần, đau đớn, quằn quại. Chí đang chuẩn bị tinh thần bước vào căn nhà lương thiện thì chính xã hội vạn ác đã vô tình hay cố ý đẩy Chí ra xa. Chí càng với thì nó càng xa thêm, cứ như vậy cho đến khi nó vụt hẳn ra khỏi tầm tay của Chí. Chí cảm thây hết sức hụt hẫng rồi quyết định vác dao đến nhà bà cô Thị Nở để “đâm chết cái con khọm già nhà nó”. Hắn lại uống, nhưng càng uống càng tỉnh, tỉnh để thấm thìa hết nỗi cay đắng của cuộc đời mình và quan trọng hơn, tỉnh để nhận ra kẻ đã làm tha hóa nhân cách, hủy hoại cuộc đời mình.

Vậy thì lần thứ ba Chí đến gặp Bá Kiến không phải đến để xin tiền như mọi khi mà đến để đòi lương thiện, đòi quyền làm một con người đúng nghĩa. Đau đớn, Chí hét lên: “… Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được hết những vết mảnh chai trên mặt này? Tao không thể là người lương thiện nữa. Biết không!…”. Đây chính là những lời vạch mặt Bá Kiến hết sức đanh thép, là bản cáo trạng đầy đủ nhất về tội lỗi của tên cường hào xảo quyệt Bá Kiến. Tội ác của hắn không gì thâm độc hơn là hủy hoại nhân cách của một con người, khiến Chí là một con người nhưng sống kiếp sống của thú vật. “Nó phải chết” là bản án dành cho nó, vậy là Chí vung dao giết Bá Kiến. Lúc này đây, ý thức về nhân phẩm đã trỗi dậy trong anh – dẫu quá muộn màng và Chí biết rằng, tội lỗi đã hằn sâu trên khuôn mặt, anh không thể sống lưu manh, sống như thú vật được nữa, nên một lần nữa, lưỡi dao oan nghiệt đã kết thúc một kiếp người. Chí đã chết bi thảm trong đau đớn cả tinh thần lẫn thể xác, chết trong tiếng kêu uất hận đầy đau thương, nhưng cho dù đã chết đi. Chí vẫn luôn thắp sáng ngọn lửa khao khát được làm người lương thiện của một người nông dân bị tha hóa.

Những câu hỏi cuối cùng của Chí là tiếng kêu đau thương tuyệt vọng của cả một kiếp người đau khổ. Những câu hỏi sẽ mãi mãi làm day dứt lòng người đọc. Qua đó đủ thấy được toàn cảnh bức tranh hiện thực trong xã hội cũ – những con người lương thiện bị cái xã hội tàn bạo, vô nhân đạo vùi dập nhân tính. Chí Phèo không phải là hiện tượng ở một con người mà là hiện tượng lưu manh hóa của thanh niên ở nông thôn Việt Nam ưong xã hội nửa thực dân nửa phong kiến. Câu chuyện chứa chan tình cảm nhân đạo, mang tính nhân văn sâu sắc qua nghệ thuật viết truyện hết sức độc đáo, xứng đáng là một tác phẩm có thể làm mờ hết các tác phẩm truyện ngắn khác cùng thời, đưa Nam Cao trở thành bậc thầy viết truyện ngắn ưong các nhà văn hiện thực phê phán giai đoạn 1930 – 1945.